Những người con tiêu biểu đất Quảng Ngãi

Căn cứ vào phép Phong Thủy xưa, Quảng Ngãi được xem là mảnh đất có thế “Tọa sơn hướng thủy”, lưng tựa dãy Trường Sơn, mặt hướng ra Biển Đông. Vì vậy, nơi đây cũng là mảnh đất “Địa linh, nhân kiệt” sản sinh ra nhiều nhân tài, trong bài này chỉ xin được liệt kê những người con tiêu biểu đất Quảng Ngãi. 

1. Nhân vật lịch sử

Quảng Ngãi nổi tiếng về những trang sử hào hùng và tinh thần cách mạng với các tên tuổi như: Bùi Tá Hán, Lê Văn Duyệt, Trương Định, Trương Quyền, Nguyễn Bá Loan, Phạm Kiệt, Phạm Văn Đồng, Trần Quý Hai, Trần Văn Trà,… Tiêu biểu là các nhân vật:

a/ Trương Định

Trương Định (1820 – 1864): Trương Định sinh quán làng Tư Cung Nam, nay thuộc xã Tịnh Khê, huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi. Năm 1844, ông theo cha vào Gia Định rồi lấy vợ và lập nghiệp ở Tân An, tỉnh Định Tường (nay thuộc tỉnh Long An). Hưởng ứng chính sách khẩn hoang của triều đình Nguyễn, Trương Định mộ dân nghèo, lập đồn điền (vừa làm ruộng vừa phiên chế thành quân dự bị) ở Gia Định, được phong chức Phó Quản cơ, rồi Quản cơ, nên thường được gọi là Quản Định. Khi quân Pháp tấn công vào Gia Định (1859), Trương Định đưa cơ binh ở đồn điền tham gia chống giặc, dùng chiến thuật du kích, tấn công bất ngờ, gây cho Pháp rất nhiều khó khăn. Một trong những chiến công nổi tiếng là phục kích giết chết tên đại úy Barbe, trừng trị nhiều tên tay sai của giặc Pháp, trong đó có Bá hộ Huy ở Đồng Sơn, tiến công các đồn giặc ở Gia Thạch, Rạch Gầm và nhiều lần đánh đồn Kỳ Hoà. Tháng 3.1862 quân Pháp rút chạy khỏi Gò Công.

den.tho.truong.dinh

Ngày 5.6.1862, triều đình nhà Nguyễn ký hoà ước Nhâm Tuất giao 3 tỉnh miền Đông Nam Kỳ cho Pháp, hạ lệnh cho Trương Định bãi binh và đi nhận chức Lãnh binh ở An Giang. Nhưng theo yêu cầu của nhân dân và các nghĩa sĩ, Trương Định đã khước từ lệnh của triều đình và nhận danh hiệu “Bình Tây Đại nguyên soái” do dân phong, tiếp tục lãnh đạo các cuộc chiến đấu chống giặc Pháp.

Ngày 20.08.1864, do sự phản bội của Huỳnh Văn Tấn, căn cứ của Trương Định bị bao vây chặt. Trong cuộc chiến đấu không cân sức, Trương Định bị trọng thương. Không để rơi vào tay giặc, ông đã dùng gươm tự sát để bảo toàn thanh danh, khí tiết của người anh hùng. Khi ấy ông 44 tuổi.

b/ Lê Văn Duyệt

Lê Văn Duyệt (1763 – 1832): Lê Văn Duyệt sinh quán tại Mỹ Tho (tỉnh Định Tường cũ), nhưng quê gốc ở làng Bồ Đề, nay thuộc xã Đức Nhuận, huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi.

Lê Văn Duyệt theo phò Nguyễn Ánh đánh bại nhà Tây Sơn và trở thành một trong những khai quốc công thần của triều Nguyễn, được phong chức Khâm sai chưởng tả quân dinh, Bình Tây tướng quân, tước Quận công. Tuy nhiên, những đóng góp tích cực của ông vào sự phát triển của đất nước, đặc biệt là vùng đất phương Nam, gắn liền với thời gian hai lần giữ chức Tổng trấn thành Gia Định (1813 – 1816; 1820 – 1832). Được các vua Gia Long và Minh Mạng giao quyền hành rộng lớn ở Gia Định và Nam Kỳ, Lê Văn Duyệt tỏ ra là một nhà cai trị xuất sắc, thực hiện nhiều chính sách phát triển kinh tế, đoàn kết các thành phần dân cư, dân tộc, tôn giáo, bảo vệ chủ quyền Tổ quốc, chống tham nhũng, lạm quyền trong bộ máy quan lại… Nhiều quyết sách của ông ở Gia Định, đặc biệt là về giao thương, đối ngoại (với Cao Miên, Xiêm La và phương Tây) thể hiện tầm nhìn cởi mở, tiến bộ và có phần mâu thuẫn với chính sách “bế quan toả cảng”, kỳ thị tôn giáo của triều đình Minh Mạng. Sau khi ông mất (1832), vua Minh Mạng và đình thần vin cớ Lê Văn Khôi (con nuôi và là thuộc tướng của Lê Văn Duyệt) nổi loạn ở thành Phiên An (1832 – 1835), ghép tội ông rất nặng, mãi đến năm Tự Đức thứ nhất (1848) mới được minh oan.

c/ Phạm Văn Đồng

Phạm Văn Đồng (1906 – 2000): Phạm Văn Đồng bí danh là Tô, sinh ngày 1.3.1906 tại làng Thi Phổ Nhất, nay thuộc xã Đức Tân, huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi; là nhà hoạt động chính trị, nhà văn hóa lớn của Việt Nam.

nha.luu.niem.bac.pham.van.dong

Ông là học trò, cộng sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ông giữ chức vụ Thủ tướng Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa từ năm 1955 đến năm 1976 và Thủ tướng của nước Việt Nam thống nhất từ năm 1976 (từ năm 1981 gọi là Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng) cho đến khi nghỉ hưu năm 1987. Ngày 21.8.1998, Thủ tướng Phan Văn Khải ký quyết định số 746/QĐ – TTg bổ nhiệm ông làm Chủ tịch danh dự Hội đồng Quốc gia chỉ đạo biên soạn Từ điển bách khoa Việt Nam. Ông đã được tặng thưởng Huân chương Sao Vàng của Việt Nam và nhiều huân chương khác của Liên Xô, Lào, Campuchia, Cuba, Bulgaria, Ba Lan và Mông Cổ. Ông mất tại Hà Nội ngày 29.4.2000, hưởng thọ 94 tuổi.

d/ Vùng đất sinh tướng

Đến thời điểm năm 1975, huyện Sơn Tịnh là một trong những quê hương có số lượng tướng nhiều nhất nước. Mười một vị tướng sinh ra ở vùng đất Sơn Tịnh trong 30 năm chiến tranh giải phóng  gồm: 1- Tướng Nguyễn Chánh, (xã Tịnh Hà) 2- Thượng tướng Trần Văn Trà (xã Tịnh Long) 3 – Trung tướng Trần Quý Hai (xã Tịnh Châu) 4 – Trung tướng Phạm Kiệt (xã Tịnh Minh) 5 – Trung tướng Võ Thứ (xã Tịnh Hà) 6 – Trung tướng Nguyễn Đôn (xã Tịnh Bình) 7 – Thiếu tướng Võ Bẩm (xã Tịnh Khê) 8 – Thiếu tướng Huỳnh Kim (xã Tịnh Minh) 9 – Thiếu tướng Châu Khải Định (xã Tịnh Hà) 10 – Thiếu tướng Lê Trung Ngôn (xã Tịnh Ấn) 11 – Thiếu tướng Phạm Quang Tiệp (xã Tịnh Sơn).

2. Danh nhân văn hóa

Quảng Ngãi còn là quê hương của nhiều nhà trí thức, nhà văn, nhà thơ, nhạc sĩ, nghệ sĩ tên tuổi như: Bích Khê, Tế Hanh, NSND Trà Giang, Trương Quang Lục, Thế Bảo, Nhất Sinh…

a/ Tế Hanh

Tế Hanh: Tên thật là Trần Phố, quê ở vạn Đông Yên, xã Bình Dương (trước 1975 là xã Bình Thủy), huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi. Cha ông là Trần Tất Tố. Ông có bốn anh em, trong đó người em út là nhạc sĩ Trần Thế Bảo. Thuở nhỏ học trường làng, trường huyện sau ra học tại trường Quốc Học Huế. Ông sáng tác thơ từ sớm và đã đứng trong phong trào Thơ mới với tập Nghẹn ngào giành giải khuyến khích của Tự lực văn đoàn. Tham gia Việt Minh từ tháng 8.1945, Tế Hanh đã trải qua các công tác văn hóa, giáo dục ở Huế, Đà Nẵng, là Ủy viên giáo dục trong Ủy ban lâm thời thành phố Đà Nẵng sau khi Cách mạng tháng Tám thành công. Năm 1947, ông làm việc trong Ban phụ trách Trường trung học bình dân Trung bộ, năm 1948, ông ở trong Ban phụ trách liên đoàn văn hóa kháng chiến Nam Trung bộ ủy viên thường vụ chi hội Văn nghệ Liên khu V. Năm 1957, khi thành lập Hội Nhà văn Việt Nam, ông là Ủy viên thường vụ Hội khoá I và khóa II, Ủy viên thường vụ Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Việt Nam (1963), tham gia Ban chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam nhiều khóa, giữ các chức vụ: Trưởng ban đối ngoại (1968), Chủ tịch Hội đồng dịch thuật (1983), Chủ tịch Hội đồng thơ (1986).

te-hanh

Ngoài thơ, Tế Hanh còn dịch nhiều tác phẩm của các nhà thơ lớn trên thế giới, viết tiểu luận phê bình văn học, thơ thiếu nhi. Ông được tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật năm 1996. Vào những năm 80, ông bị đau mắt và mắt ông mù dần. Ông qua đời vào 16.07.2009.

b/ Trương Quang Lục

Trương Quang Lục: Ông sinh ngày 25.2.1933, quê tại xã Tịnh Khê, nay là xã Sơn Mỹ, huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi. Là hội viên Hội Nhạc sĩ Việt Nam, đồng thời là hội viên Hội Nhà báo Việt Nam. Trong kháng chiến chống Pháp, Trương Quang Lục đã có một số bài hát được phổ biến như: Chuyến tàu trăng, Bảo vệ hòa bình, Đố cờ, Hoa bên suối… Sau hòa bình, ông chuyển ra miền Bắc vừa làm kỹ sư hóa chất ở nhà máy Super – Phosphate Lâm Thao, ông vừa sáng tác ca khúc và nhiều tác phẩm ra đời ở đó.

c/ NSND Trà Giang

NSND Trà Giang: Bà sinh năm 1942 tại Quảng Ngãi, là một diễn viên điện ảnh Việt Nam nổi tiếng. Bộ phim đầu tiên bà tham gia là phim Một ngày đầu thu (đạo diễn Huy Vân), và bộ phim cuối cùng là Dòng sông hoa trắng (đạo diễn Trần Phương). Trà Giang cũng tham gia nhiều bộ phim nổi tiếng và đoạt nhiều giải thưởng trong nước và quốc tế như: Chị Tư Hậu (huy chương bạc Liên hoan Phim Quốc tế Moskva năm 1963), Vĩ tuyến 17 ngày và đêm (đoạt giải diễn viên nữ xuất sắc nhất tại Liên hoan Phim Quốc tế Moskva năm 1973). Trà Giang còn là đại biểu Quốc hội các khóa V, VI và VII.

Các bình luận

comments

du lich ly son quang ngai

Bài viết liên quan