Dứa dại từ lá cho đến rễ điều là thuốc

Cây dứa dại là loại cây thường mọc hoang ở các vùng ven biển, nhất là ở các tỉnh duyên hải miền trung nước ta. Dứa dại rất tốt cho sức khỏe và có thể dùng làm thuốc điều trị nhiều căn bệnh khác nhau. Loại cây này mọc nhiều ở Lý Sơn đặc biệt là đảo Bé có nguyên cả rừng dứa dại.

Được xem nhiều nhất:

Lý Sơn chứa cả rừng thuốc quý4

1. Lá non:

Vị ngọt, tính lạnh, có công dụng tán nhiệt độc, lương huyết, cầm máu, sinh cơ; được dùng để chữa các chứng bệnh như sởi, ban chẩn, nhọt độc, chảy máu chân răng…

  • Chữa viêm loét cẳng chân kinh niên: Dùng đọt non dứa dại và đậu tương giã nát, đắp vào tổn thương.
  • Chữa các vết loét sâu gây thối xương: Dùng đọt non dứa dại giã đắp để hút mủ.
  • Thanh tâm giải nhiệt, chữa bồn chồn, tay chân vật vã không yên: Dùng đọt non dứa dại 2 lạng ta, xích tiểu đậu 1 lạng ta, đăng tâm thảo 3 con, búp tre 15 cái sắc uống.
  • Chữa đái rắt, đái buốt, đái ra máu: Đọt non dứa dại 15-20 g sắc uống.

2. Hoa:

Vị ngọt, tính lạnh, có công dụng thanh nhiệt, lợi thủy, trừ thấp nhiệt, chỉ nhiệt tả, được dùng để chữa các chứng bệnh như sán khí (thoát vị bẹn hoặc thoát vị bìu, đau từ bìu lan lên bụng dưới), lâm trọc (đái buốt, đái đục), tiểu tiện không thông, đối khẩu sang (nhọt mọc ở gáy chỗ ngang với miệng), cảm mạo…

Chữa ho do cảm mạo: Dùng hoa dứa dại 4-12 g sắc uống.

3. Quả:

Có công dụng bổ tỳ vị, cố nguyên khí, chế phục cang dương (khí dương không có khí âm điều hòa, bốc mạnh lên mà sinh bệnh), làm mạnh tinh thần, ích huyết, tiêu đàm, giải ngộ độc rượu, làm nhẹ đầu, sáng mắt, khai tâm, ích trí… Nó được dùng để chữa nhiều chứng bệnh như sán khí, tiểu tiện bất lợi, đái đường, lỵ, trúng nắng, mắt mờ, mắt hoa…

  • Chữa lỵ: Dùng quả dứa dại 30-60 g sắc uống.
  • Chữa chứng mờ mắt, nhặm mắt: Quả dứa dại ngâm mật ong uống liền trong một tháng.
  • Say nắng: Hoa hoặc quả dứa dại sắc uống.
  • Đái buốt, đái rắt, đái đục: Quả dứa dại khô 20-30 g thái vụn, hãm uống thay trà trong ngày.
  • Chữa chứng viêm tinh hoàn: Lấy hạt quả dứa dại 30 – 60 g, lá tử tô 30 g, lá quất hồng bì 30 g, nấu kỹ lấy nước để còn ấm rửa hằng ngày.

Lý Sơn chứa cả rừng thuốc quý3

4. Rễ:

  • Vị ngọt, tính mát, có công dụng phát hãn (làm ra mồ hôi), giải nhiệt (hạ sốt), chữa các chứng bệnh như cảm mạo, sốt dịch, viêm gan, viêm thận, viêm đường tiết niệu, phù thũng, đau mắt đỏ, thương tổn do chấn thương.
  • Chữa phù thũng, cổ trướng: Rễ dứa dại 30-40 g phối hợp với rễ cỏ xước 20-30 g, cỏ lưỡi mèo 20-30 g sắc uống.
  • Chữa chấn thương: Rễ dứa dại tươi không kể liều lượng, giã nát đắp…
  • Chữa đau đầu mất ngủ: Rễ dứa dại 20 – 30 g, sao thơm, sắc lấy nước, chia 2 lần uống trong ngày.
  • Chữa tiểu buốt, đái ít: Rễ dứa dại 20 – 30 g, rễ dứa gai 20 – 30 g, sắc lấy nước chia 2 lần uống trong ngày.
  • Chữa sỏi thận, tiết niệu: Rễ dứa dại hoặc dứa quả dại 12 – 20 g, hạt quả chuối hột 10 – 12 g, rễ cỏ tranh 10 – 12 g, bông mã đề 8 – 10 g, kim tiền thảo (lá đồng tiền hay gọi lá mắt trâu) 15 – 20 g, rễ cây lau 10 – 12 g, củ cỏ ống 10 – 12 g. Sắc lấy nước uống làm 2 – 3 lần trong ngày vào trước bữa ăn, mỗi lần khoảng 100 – 150 ml.
  • Chữa viêm thận phù thũng: Rễ dứa dại 30 – 60 g, thịt lợn nạc 150 – 200 g. Nấu thành canh ăn ngày một lần, một tuần ăn 3 – 4 lần. Kết hợp hằng ngày dùng rau dừa nước khô (Du long thái) 30 – 60 g, rau má 12 – 16 g, bông mã đề 10 – 12 g, bồ công anh 12 – 16 g, sắc với nước uống vào trước bữa ăn ngày 2 lần, mỗi lần 150 ml.
  • Trị viêm gan, xơ gan cổ chướng: Rễ dứa dại hoặc quả dứa dại 20 – 30 g, lá quao nước 20 – 30 g, lá cây ô rô 12 – 20 g, sắc lấy nước thuốc uống ngày 2 lần.
  • Ăn uống kém sau sinh: Rễ dứa dại 15 – 20 g, vỏ cây chòi mòi (cây thuộc họ thầu dầu) 7 miếng cỡ 4×6 cm, sắc lấy nước uống ngày 2 lần vào trước bữa ăn, mỗi lần khoảng 100 ml.

Các bình luận

comments

du lich ly son quang ngai

Bài viết liên quan